Khoản 2 Điều 50 Nghị định 253 quy định “Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.”
Theo quy định trên thì vào thời điểm chi trả thu nhập, nếu hợp đồng lao động đã chấm dứt thì NSDLĐ phải khấu trừ thuế 10%. Tuy nhiên, hiện quy định chỉ quy định 10% trên thu nhập mà không nói rõ là tổng thu nhập hay thu nhập chịu thuế hay thu nhập tính thuế.
Hiện có cơ quan thuế địa phương hướng dẫn là 10% trên thu nhập chịu thuế, có cơ quan thuế địa phương hướng dẫn là tổng thu nhập. Tuy nhiên, theo quan điểm của T&P thì mức khấu trừ 10% trên thu nhập chịu thuế là hợp lý. Bởi lẽ, nếu NSDLĐ khấu trừ 10% trên tổng thu nhập bao gồm cả khoản được miễn thuế, hoặc khoản không phải là tiền lương, tiền công thì người nộp thuế có khả năng cao sẽ không thể lấy lại được các khoản này nếu theo thủ tục QTT hiện tại.
Nghị định 253 quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định tại khoản 3 Điều 113 của Bộ luật Lao động.
Hiện pháp luật quy định người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
b) 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
c) 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Ngoài ra pháp luật lao động cũng quy định người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
Căn cứ vào các quy định nêu trên thì nếu NLĐ vẫn còn làm việc mà NSDLĐ trả tiền lương cho những ngày nghỉ phép năm thì sẽ không được miễn thuế TNCN.
Ngoài ra trường hợp NSDLĐ cho thêm ngày nghỉ phép năm nhiều hơn số ngày nghỉ phép năm mà pháp luật lao động quy định hoặc trường hợp NSDLĐ cho phép NLĐ mang sang năm sau một số ngày phép năm thì khả năng khi NLĐ nghỉ việc và được thanh toán bằng tiền sẽ không được miễn thuế TNCN.
Khoản 4 và khoản 5 Điều 7 Luật Lý lịch Tư pháp quy định:
"Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 quy định tại Điều 43 của Luật này.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp thông tin lý lịch tư pháp hoặc Phiếu lý lịch tư pháp số 1, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc nghị định, nghị quyết của Chính phủ quy định cần sử dụng thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ mục đích tuyển dụng, cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đối với các ngành nghề, vị trí việc làm có liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng hoặc để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân khi tham gia các giao dịch dân sự, thương mại liên quan trực tiếp đến các đối tượng yếu thế trong xã hội."
Căn cứ quy định nêu trên, Doanh nghiệp không được yêu cầu NLĐ cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2. Đối với Phiếu lý lịch tư pháp số 1, Doanh nghiệp chỉ được yêu cầu khi nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc nghị định, nghị quyết của Chính phủ quy định cần sử dụng thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ mục đích tuyển dụng.
Hiện theo quy định của pháp luật Lý Lịch Tư pháp thì việc xin cấp Lý Lịch Tư pháp cho người nước ngoài sẽ chỉ được thực hiện trực tiếp hoặc qua ủy quyền hoặc qua dịch vụ bưu chính.
Nếu thực hiện trực tiếp thì dùng Mẫu 02 theo Thông tư 101/2026/TT-BCA. Nếu thực hiện qua ủy quyền thì phải có Giấy ủy quyền có công chứng, chứng thực và dùng Mẫu 03 theo Thông tư 101/2026/TT-BCA.